Nhìn lại ngân hàng đa năng Việt Nam

Tuy các ngân hàng thương mại Việt Nam được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khẳng định là an toàn trước cuộc khủng hoảng lớn nhất trong gần 80 năm nay, nhưng người gửi tiền cũng cần biết tiền của mình được các ngân hàng trong nước bảo vệ như thế nào.

Trong
khi hai ngân hàng đầu tư cuối cùng của phố Wall là Goldman Sachs và
Morgan Stanley chuyển đổi mô hình thành ngân hàng thương mại, thì Việt
Nam chưa có ngân hàng đầu tư.

Manh nha ngân hàng đầu tư

Thực tế không ít doanh nghiệp đang nhen nhóm kế hoạch hình thành ngân
hàng đầu tư. Công ty chứng khoán SSI – trong nghị quyết HĐQT đầu năm
nay, SSI sẽ xây dựng, phát triển từ công ty chứng khoán lên ngân hàng
đầu tư. Ông Nguyễn Đức Hưởng, tổng giám đốc ngân hàng Liên Việt cho
biết, ngân hàng này chú trọng phát triển theo hướng ngân hàng đầu tư.

Theo ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ tịch hội đồng sáng lập ngân hàng ACB,
ACB sẽ tập trung phát triển hai mũi nhọn: là ngân hàng thương mại ACB
với nhiệm vụ bán lẻ và ngân hàng đầu tư ACBS. Ngân hàng bán lẻ được
phát triển từ khối dịch vụ ngân hàng của ACB và ngân hàng đầu tư chuyên
nghiệp phát triển từ công ty chứng khoán ACB (ACBS). Ngân hàng thương
mại ACB sẽ gồm công ty tài chính, công ty thẻ, công ty vàng và công ty
thuê mua ACB. Ngân hàng đầu tư ACBS gồm công ty quản lý quỹ, công ty
đầu tư và công ty bảo hiểm.

Tại Việt Nam, hầu hết 42 ngân hàng thương mại tại Việt Nam là ngân hàng
thương mại đa năng, trừ ngân hàng Chính sách xã hội và ngân hàng Phát
triển Việt Nam. Ông Lê Xuân Nghĩa, vụ trưởng vụ Chiến lược ngân hàng,
ngân hàng Nhà nước giải thích, ngân hàng đa năng là ngân hàng thương
mại trong đó có hoạt động đầu tư. Ngân hàng đa năng được phép vừa huy
động tiền gửi trong dân, cho vay doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng, lại
vừa kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư trực tiếp doanh nghiệp,
đầu tư trực tiếp vào dự án của doanh nghiệp, chính phủ…

Tháng 5 vừa qua – khi thị trường chứng khoán tuột dốc – cũng là thời
điểm giới đầu tư trong nước biết được khoản đầu tư chứng khoán của các
ngân hàng cụ thể gồm những gì? Số các ngân hàng có đầu tư lớn vào chứng
khoán đều công bố phần lớn đầu tư vào chứng khoán nợ (trái phiếu chính
phủ, công trái…), nhưng trước đó không ít ngân hàng đổ nhiều vào cho
vay cầm cố chứng khoán, bất động sản.

Theo ông Lê Xuân Nghĩa, ngân hàng thương mại không nên “đa nghề”, bởi
ngân hàng thương mại – với chức năng chính là huy động tiền gửi của dân
– là nền tảng kinh tế xã hội của một quốc gia; nếu không quản lý rủi ro
tốt sẽ ảnh hưởng đến xã hội.

Tránh xã hội hoá trách nhiệm?

“Ngân
hàng thương mại không nên “đa nghề”, bởi ngân hàng thương mại – với
chức năng chính là huy động tiền gửi của dân – là nền tảng kinh tế xã
hội của một quốc gia; nếu không quản lý rủi ro tốt sẽ ảnh hưởng đến xã
hội”

Lê Xuân Nghĩa, vụ trưởng vụ Chiến lược ngân hàng, ngân hàng Nhà nước

Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, các khoản tiền gửi tại
tổ chức tín dụng tại Việt Nam đều phải có bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên,
nghị định 109/2005 quy định số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các
khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi, tối đa là 50 triệu đồng. Số tiền vượt mức tối đa
sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với quy định của pháp luật về
giải thể, phá sản. Điều này cũng là rủi ro nếu người gửi tiền “nhầm”
vào một ngân hàng quản lý rủi ro lỏng lẻo.

Một ngân hàng thương mại thường hơn thua nhau ở hệ thống quản trị, kiểm
soát rủi ro, tuân thủ nguyên tắc hoạt động giảm thiểu và đa dạng hoá
rủi ro.

Vừa qua, thời điểm chứng khoán và giá vàng lên cao trào, hai nhân viên
của một ngân hàng có thể biển thủ tiền đi đầu tư vàng là bởi hệ thống
kiểm soát của ngân hàng này quá yếu. Cũng có thời điểm, có ngân hàng
cho vay đến trên 250% số vốn huy động, chứng tỏ ngân hàng khinh suất
rủi ro tính thanh khoản.

Nếu những thông tin như thế được công bố với tên tuổi ngân hàng, người
dân sẽ không gửi tiền vào một ngân hàng chưa đủ tính quản trị rủi ro
như vậy.

Nếu vậy, có phải cuộc khủng hoảng ở Mỹ là do hệ thống quản trị của các
tập đoàn ngân hàng đầu tư yếu kém? Không phải. “Định nghĩa rủi ro cũng
tuỳ theo quan điểm của từng tổ chức. Khoản đầu tư này có thể phù hợp
với hướng đi của ngân hàng này nhưng ngân hàng khác lại thấy mạo hiểm.
Quan trọng là ngân hàng phải biết cân đối danh mục đang nắm giữ. Ví dụ
đổ nhiều vào nhà đất thì khi thị trường đóng băng tính thanh khoản sẽ
bị đe doạ”, ThS Lê Đạt Chí nói.

Vì vậy, việc nhanh chóng lập một hệ thống kiểm tra hữu hiệu tài chính
của ngân hàng và tập đoàn quốc doanh lớn phải được chú trọng. Từ đó,
đòi hỏi các tổ chức này minh bạch báo cáo tài chính, các chỉ tiêu hoạt
động cơ bản theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các
con số này. “Chỉ có thế thì mới có thể ngăn ngừa và tránh được một cuộc
xã hội hoá trách nhiệm khi khủng hoảng tài chính nổ ra”, ông Lê Đạt Chí
nói.

Một rủi ro khác, theo ông Lê Xuân Nghĩa, là hệ thống quản lý chưa liên
thông. Các nước thường thành lập cơ quan giám sát hợp nhất chứng khoán,
quỹ đầu tư, quản lý quỹ, đầu tư trực tiếp, ngân hàng nhằm kiểm soát
thông tin. Còn ở Việt Nam, các lĩnh vực bị tách biệt: ngân hàng Nhà
nước giám sát ngân hàng, uỷ ban Chứng khoán giám sát chứng khoán, quỹ
đầu tư, lĩnh vực bảo hiểm thì “phân” cho bộ Tài chính. “Bốn – năm ông
nhà nước nhảy vào quản lý, không thông tin kịp thời cho nhau dễ dẫn đến
rủi ro chéo”, ông Nghĩa nhận xét.

Theo Sài Gòn Tiếp Thị

This entry was posted in Tài chính. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s