Khủng hoảng tài chính Mỹ: Bao giờ hết ỷ lại?

(TBKTSG) –
Chứng kiến những gì xảy ra trên thị trường tài chính Mỹ, nhiều người
cho rằng đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng
1920-1933 đến nay. Câu hỏi được đặt ra là tại sao điều tồi tệ như vậy
lại có thể xảy ra?

Đây là một chủ đề hết sức phức tạp cần nhiều thời gian và công sức của nhiều người mới có thể lý giải được phần nào.

Trong bài viết này, tác giả chỉ đưa ra những đánh giá sơ bộ chủ yếu
dựa trên phân tích của Doug Diamond, giáo sư thuộc Đại học Yale và Anil
Kashyap, giáo sư thuộc Đại học Chicago đăng trên tờ New York Times,
phân tích của Charles Goodhart, giáo sư thuộc trường Kinh tế London,
nguyên thành viên Ủy ban Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương
Anh đăng trên tờ Financial Times và qua trao đổi trực tiếp với Alfred
Schipke, giảng viên về các thị trường tài chính quốc tế tại trường
Harvard Kennedy.

Hoa Kỳ và các thị trường phát triển – kết thúc hay bắt đầu một thập kỷ của tâm lý ỷ lại?

Cách đây 10
năm, Chính phủ Hoa Kỳ và các ngân hàng ở phố Wall đã quyết định cứu
LTCM, quỹ đầu cơ mà trong đó hai nhà kinh tế đoạt giải Nobel về mô hình
định giá quyền chọn Myron Scholes và Robert C. Merton ngồi trong hội
đồng quản trị. Chính điều này đã tạo ra một tiền lệ rất xấu, các tổ
chức tài chính ỷ lại rằng nếu có vấn đề gì đã có chính phủ đứng đằng
sau ra tay cứu giúp nên họ đã dấn sâu vào những hoạt động có nhiều rủi
ro hơn.

Thêm vào đó, sau dư âm của những khủng hoảng tài chính liên tiếp
xảy ở các nền kinh tế mới nổi cộng với bong bóng dot.com (các công ty
liên quan đến Internet) bị vỡ, nhiều người đã nghĩ rằng Hoa Kỳ là nơi
có hệ thống tài chính an toàn nhất nên thi nhau đổ tiền vào. Kết quả là
các tập đoàn tài chính, các ngân hàng đầu tư đã tiếp cận được dòng tiền
giá rẻ, bằng chứng là lúc bấy giờ lãi suất của FED chỉ còn 1%.

Tiền được đem đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao và thiếu cân
nhắc, nhất là nhờ sự biến ảo tinh vi của các công cụ tài chính mà từ
những khoản nợ thế chấp bất động sản kém chất lượng trở thành những mặt
hàng đắt giá được mua đi bán lại nhiều lần. Kết quả khi người vay không
thể trả được nợ thì toàn bộ dây chuyền này bị sụp đổ và hàng trăm tỉ đô
la biến thành mây khói đẩy các tổ chức tài chính vào chỗ phải “bán
mình” hay đệ đơn phá sản.

Nhiều người cho rằng, một nguyên nhân khác gây ra cuộc khủng khoảng
hiện tại là do các thị trường và công cụ tài chính phát triển quá nhanh
trong khi các cơ quan quản lý và giám sát thị trường đã không theo kịp
cũng như không có đủ thẩm quyền để đưa ra các quyết định.

Khi sự cố xảy ra, Hoa Kỳ đã chọn cách tiếp cận xử lý theo tình
huống. Sở dĩ Bear Stearns được cứu là do lúc đó những nhà quản lý không
có thông tin đầy đủ về thực tế thị trường nên họ lo ngại rằng, nếu để
ngân hàng này phá sản sẽ kích hoạt sự sụp đổ của cả thị trường. Fannie
Mae, Freddie Mac và AIG được cứu là do chúng “quá lớn nên không thể
thất bại” (too big to fail). Nếu để chúng đổ sẽ kéo cả hệ thống đổ theo.

Ngược lại, Lehman Brothers phải đệ đơn phá sản là vì sau vụ Bear
Stearns, những bên liên quan đã có đủ thời gian để chuẩn bị nên với
tình huống xấu nhất xảy ra thì cũng không sao. Hơn thế, Chính phủ Hoa
Kỳ không muốn tạo ra tâm lý ỷ lại (moral hazard) một lần nữa.

John Authers, biên tập mục đầu tư của tờ Financial Times đã nhận
xét: “Việc phá sản của Lehman Brothers sẽ không làm chấm dứt cuộc khủng
hoảng tín dụng, nhưng nó sẽ kết thúc một thập kỷ của tâm lý ỷ lại”.Với
cách tiếp cận theo từng tình huống (case-by-case), thông điệp được đưa
ra là nếu việc đổ vỡ của một doanh nghiệp có nguy cơ ảnh hưởng đến toàn
thị trường thì sẽ được cứu, còn không sẽ phải phá sản.

Tuy nhiên, điều này đã tạo ra một sự bất ổn rất lớn cho toàn thị
trường vì không ai biết được trong những doanh nghiệp còn lại ai sẽ là
Lehman, ai sẽ là AIG tiếp theo, dẫn đến làn sóng tháo chạy trên thị
trường.

Trong tình huống chẳng đặng đừng, hôm thứ Bảy vừa qua, Chính phủ Mỹ
đã đệ trình lên Quốc hội gói giải pháp toàn diện với tổng ngân sách lên
đến 700 tỉ đô la, một con số chưa từng có trong lịch sử nước này. Với
gói giải pháp này, hiểu một cách đơn giản là chính phủ sẽ bỏ tiền ra
mua lại các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp để xử lý, như điều mà
nước này đã từng thành công đối với hệ thống tiết kiệm vào cuối thập
niên 1980. Điều này sẽ trấn an công chúng rằng điều tồi tệ nhất đã qua.

Tuy nhiên, quyết định giải cứu cả gói nêu trên sẽ tạo ra nguy cơ tái
diễn tâm lý ỷ lại rất lớn. Nếu không có những chính sách hợp lý thì
không ai biết hệ quả của giải pháp này trong 10 hay 20 năm tới sẽ như
thế nào. Trước đó, trong bài viết trên Financial Times, Giáo sư Charles
Goodhart đã rất quan ngại về vấn đề tâm lý ỷ lại trong thời gian sắp
tới.

Các thị trường mới nổi, những tác động khác nhau

So sánh với các thị trường đã phát triển, các thị trường mới nổi có
sự biến động dữ dội hơn nhiều. Đây là một chủ đề khá thú vị. Tuy nhiên,
bài viết của Goodhart chỉ chấm phá một vài khía cạnh của thị trường
Nga, Trung Quốc và Việt Nam.

Đối với thị trường Nga, một lần nữa nó lại cho thấy sự liên hệ chặt
chẽ giữa kinh tế và chính trị là như thế nào, nhất là trong giai đoạn
toàn cầu hóa một cách sâu sắc. Khi tình hình nước này khá ổn định, tiến
trình đàm phán gia nhập WTO tiến triển tốt, các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp quốc tế đã đổ hàng trăm tỉ đô la vào. Tuy nhiên, khi cuộc chiến
với Georgia xảy ra, kế hoạch gia nhập WTO bị hoãn lại, các nhà đầu tư
nước ngoài đã ồ ạt rút vốn gây ra nguy cơ đổ vỡ hệ thống tài chính. Nga
phải đóng cửa thị trường chứng khoán hai ngày vào tuần trước.

Đối với thị trường Trung Quốc, hai trong những nguyên nhân chính dẫn
đến việc sụt giảm của thị trường cổ phiếu là do (1) tâm lý đầu cơ đã
đẩy giá lên một mức không tưởng (trên 6.000 điểm) nên tạo ra áp lực xì
hơi hay bong bóng vỡ; (2) tác động của những biến động ở các nền kinh
tế phát triển, nhất là Mỹ khi mà hoạt động ngoại thương đóng góp một
phần đáng kể vào kinh tế nước này đã tạo ra viễn cảnh không mấy sáng
sủa là cú đánh bồi làm cho thị trường nước này chúc đầu đi xuống.

Đối với Việt Nam, theo Goodhart, sự sụt giảm, biến động của thị
trường chủ yếu là do những vấn đề nội tại của nền kinh tế và tâm lý của
những người tham gia thị trường nhiều hơn là những tác động từ bên
ngoài.

Tóm lại, cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn biến hết sức phức tạp
nên rất khó có thể đưa ra những phân tích một cách rốt ráo. Chắc chắn
nó sẽ để lại hậu quả hết sức nặng nề cho nền kinh tế toàn cầu, trong đó
Việt Nam, một nền kinh tế nhỏ có độ mở khá lớn, sẽ chịu những tác động
không nhỏ. Do vậy, việc đánh giá một cách đúng mức những tác động có
thể đối với nền kinh tế là việc làm hết sức cần thiết vì rất có thể nó
sẽ lớn hơn sự tưởng tượng của rất nhiều người.

HUỲNH THẾ DU – Trường Harvard Kennedy

This entry was posted in Tài chính. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s